Ông Michael Pettis, chuyên gia về
kinh tế trường Đại học Peking, đồng thời là thành viên cao cấp của Viện
Carnegie Endowment đã nhận định như vậy trên chuyên mục bình luận của tờ
"Thời báo Tài chính" (Anh).
Theo
bài bình luận, nếu phần còn lại của thế giới buộc Mỹ thực hiện chính
sách bảo hộ một cách mạnh mẽ thì chắc chắn sẽ tạo ra một thời kỳ của chủ
nghĩa bảo hộ toàn cầu và điều này có tác động to lớn tới các nước có
thặng dư thương mại. Hiện Mỹ và châu Âu (chủ yếu là Tây Ban Nha, Italia
và Hy Lạp) là những khu vực có mức thâm hụt thương mại cao nhất thế
giới. Thâm hụt thương mại của Mỹ tháng 6/2010 đã lên tới 50 tỷ USD, tăng
so với mức 42 tỷ USD trong tháng 5/2010. Đây là mức cao nhất kể từ giữa
năm 2008 và chưa từng có trước năm 2004. Việc thâm hụt thương mại gia
tăng là hệ quả tự nhiên của bước chuyển trong sự mất cân bằng thương mại
toàn cầu.
Cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua đã hủy hoại trạng thái cân bằng
tạm thời giữa các khối bằng cách buộc các quốc gia thâm hụt thương mại
phải cắt giảm nợ, điều này sẽ khiến nhu cầu tiêu dùng của phần còn lại
của thế giới giảm. Các nước thặng dư thương mại, vốn phụ thuộc vào nhu
cầu này, đã phản đối sự điều chỉnh này một cách mạnh mẽ thông qua việc
cố gắng duy trì hay thậm chí tăng mức thặng dư của mình.Cuộc khủng hoảng
đã khiến các nước thâm hụt thương mại tại châu Âu không thể tìm các
nguồn tài chính mới.
Tuy
nhiên, thương mại toàn cầu phải được cân bằng. Phần còn lại của thế
giới cũng sẽ phải chấp nhận mức thâm hụt thương mại tăng. Hiện Mỹ thiếu
các chính sách kiểm soát tỷ lệ lãi suất và can thiệp tiền tệ đối với các
quốc gia thặng dư thương mại chủ chốt, nên Mỹ sẽ buộc phải sử dụng các
hình thức khác của chủ nghĩa bảo hộ thương mại - đó là hàng rào thuế
quan và hạn ngạch nhập khẩu.
Tuy
nhiên, điều này khó xảy ra nếu thế giới không muốn có một cuộc chiến
thương mại toàn cầu. Thay vì ủng hộ các chính sách đẩy thâm hụt sang nơi
khác, các nền kinh tế lớn cần phải chấp nhận chia sẻ một phần lớn khó
khăn ở châu Âu.